Đô thị biển Việt Nam còn thiếu sức hút

Đô thị biển Việt Nam còn thiếu sức hút


Tại hội thảo “Phát triển bền vững đô thị biển Việt Nam thời kỳ mới” diễn ra chiều ngày 3/8, nhiều chuyên gia nhận định: sở hữu bờ biển dài có nhiều cảnh quan thiên nhiên phong phú cùng hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ và hàng trăm bãi tắm cát trắng trải dài từ Bắc vào Nam, Việt Nam có điều kiện vô cùng thuận lợi để tạo dựng các đô thị đẳng cấp quốc tế.

PHÁT TRIỂN CHƯA BỀN VỮNG

Theo chuyên gia tài chính kinh tế Đinh Trọng Thịnh, các đô thị ven biển của nước ta đều tích cực thu hút đầu tư xây dựng và phát triển nhiều khu, điểm du lịch ven biển mới và hiện đại, thu hút số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước. Ở hầu hết các địa phương ven biển đã phát triển được chuỗi các khu du lịch, khu nghỉ dưỡng hiện đại. Khá nhiều dự án đầu tư khu du lịch biển, đảo cao cấp, khu du lịch thể thao, giải trí ven biển có số vốn từ 500 triệu USD đến 1 tỷ USD.

Song thực tế cho thấy, các đô thị biển chưa thực sự trở thành trung tâm phát triển kinh tế vùng và khu vực; Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch phát triển đô thị biển với các loại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển du lịch, quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch bảo vệ môi trường với quy hoạch đô thị; Kết cấu hạ tầng đô thị biển chưa thực sự đồng bộ, thiếu cơ sở hạ tầng lớn, hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh để trở thành các trung tâm kinh tế biển; Các đô thị du lịch biển còn thiếu sự kết nối cảnh quan, và các điều kiện cần thiết để phát triển du lịch.

 

Việt Nam hiện có 28 đơn vị hành chính cấp tỉnh có đường bờ biển. Đô thị ranh giới hành chính giáp biển có gần 600 đô thị, chiếm khoảng 8% số lượng đô thị cả nước. Trong  5 thành phố trực thuộc trung ương thì có đến 3 đô thị biển là Hải Phòng, Đà Nẵng và TP.HCM. 

Mặt khác, do tác động của đô thị hóa, các không gian mở trong đô thị đặc biệt các không gian xanh và không gian công cộng đô thị du lịch biển càng ngày càng bị thu hẹp và bị chia cắt, gây ảnh hưởng tới môi trường đô thị cũng như cuộc sống của người dân địa phương…

Về nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam nhìn nhận, đại đa số các đô thị nước ta là đô thị cổ và phân bố ở ven biển. Hầu hết thường được phát triển tập trung dọc theo các tuyến đường bộ, được hình thành một cách tự nhiên, đôi khi tự phát. Các đô thị ven biển nước ta vẫn đang phát triển trên nền tảng của tư duy “đất liền”, khiến Việt Nam đang tự kìm hãm khả năng phát triển kinh tế biển, đô thị biển – thứ mà rất nhiều quốc gia trên thế giới ao ước và thèm khát.

Cũng vì lẽ đó, đô thị biển Việt Nam sau thời gian dài hình thành và phát triển, đến nay vẫn chưa ghi nhận được kết quả đáng mong đợi, vẫn chưa xứng tầm với tiềm năng vốn có, thậm chí là còn phát triển kém hiệu quả, thiếu bền vững. 

QUY HOẠCH CHƯA ĐƯỢC QUAN TÂM ĐÚNG MỨC

Còn theo  KTS. Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam,  việc quy hoạch xây dựng và công tác quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch tại nước ta chưa được quan tâm đúng mức nên chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý và phát triển đô thị biển. 

Quy hoạch sử dụng đất chưa sát thực tế dẫn tới tình trạng dự án “treo”, gây lãng phí đất đai và tài nguyên biển cả. Phần lớn các quy hoạch cụ thể ở không gian “mặt tiền” này được thực hiện dựa trên tư duy quy hoạch đô thị biển chứ không dựa trên các nguyên tắc quy hoạch không gian du lịch biển.

Trong khi đó, việc quy hoạch không gian biển phục vụ cho mục đích du lịch đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển đô thị bền vững bởi các công trình này đã chiếm gần như toàn bộ “mặt tiền” hướng ra biển, thiếu sự hài hoà, thân thiện với tự nhiên và môi trường.

“Sự phát triển ồ ạt các dự án bất động sản, cho phép các chủ đầu tư xây dựng các công trình sát biển hay xu hướng tư nhân hóa bãi biển, đặc biệt những công trình kiến trúc nhà ở, thương mại cao tầng… án ngữ tầm nhìn còn tiềm ẩn nguy cơ kìm hãm và làm tổn hại cơ hội phát triển trong tương lai của đô thị. Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng các vùng biển, vùng ven biển còn yếu kém, đầu tư manh mún và dàn trải, dẫn đến hiệu quả sử dụng thấp, khó tạo đột phá”, ông Chính đánh giá.

Nhìn từ góc độ pháp lý, ông Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam phân tích: Trải qua hơn 30 năm khai niệm về đô thị đặc thù mới dừng lại ở việc quy định tiêu chí đối với đô thị ở miền núi, vùng cao, có đường biên giới quốc gia (loại III, IV, V) và đô thị ở hải đảo (điều 9 Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH về Phân loại đô thị) chưa có định nghĩa, tiêu chí cho đô thị biển và nhiều đô thị chuyên ngành. Đây là một trong các nguyên nhân chính dẫn tới việc phát triển đô thị biển thiếu kiểm soát, lãng phí nguồn lực, thiếu tính bền vững.

Bên cạnh đó, do chưa có quy hoạch tổng thể cấp quốc gia cho phát triển đô thị biển nên các vùng đô thị hóa ven biển vẫn còn phát triển dưới tiềm năng, thiếu liên kết, còn nặng tư duy cục bộ.

Ở khía cạnh giữa các ngành kinh tế, chưa có sự thống nhất đồng bộ giữa phát triển dịch vụ cảng biển, công nghiệp ven biển với phát triển dịch vụ du lịch. Ở góc độ giữa các địa phương là cuộc “đua tranh” nếu cùng tiềm năng, lợi thế. Hậu quả là sự phân tán nguồn lực đất đai, nguồn lực con người và nguồn lực tài chính dẫn tới hạn chế khai thác tiềm năng của đô thị biển. 

 

Vùng biển Việt Nam có diện tích rộng gấp hơn 3 lần diện tích đất liền. Việt Nam là quốc gia biển với gần 50% dân số sinh sống ở vùng duyên hải. Kinh tế biển đóng góp 60% tổng GDP.

Trên cơ sở đó, ông Dũng kiến nghị cần sớm đưa khái niệm về đô thị biển vào trong quy định của pháp luật như là định nghĩa về đô thị đặc thù để từ đó hình thành mô hình phát triển đô thị biển bền vững; Xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn cho đô thị biển trong phân loại đô thị tạo thuận lợi cho việc xác định vị trí, vai trò chức năng của đô thị biển, nhất là các đô thị biển được xác định trở thành đô thị động lực.

Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh nhìn nhận thêm: Giống như mọi đô thị khác trên thế giới, đô thị biển cũng cần và cũng là nơi tập trung các cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội hiện đại phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đô thị biển, cả cơ sở hạ tầng kỹ thuật, lẫn cơ sở hạ tầng xã hội, cả cơ sở hạ tầng đô thị cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ kinh tế biển. Cơ sở hạ tầng đô thị biển không phải chỉ phục vụ dân cư trú thường xuyên mà còn phục vụ cả lượng khách đông đảo đến với đô thị biển. Chính vì vậy, điều kiện về cơ sở hạ tầng, từ giao thông, nhà ở, văn phòng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, bãi biển, quán ăn, tiệm cà phê… đến cơ sở giáo dục, y tế, thể thao… đều cần đảm bảo phù hợp với quy mô, tính chất và định hướng phát triển của mỗi đô thị biển.



Source link

Bài viết liên quan